Nghiên cứu trên 69 bệnh nhân ung thư đại trực tràng được phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Đại học Y Dược Shing Mark cho thấy hơn 53% trường hợp ở giai đoạn III. Kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật giúp xác định chính xác đặc điểm khối u, tình trạng di căn hạch, thể loại tế bào ác tính và giai đoạn ung thư qua đó hỗ trợ bác sĩ chuyên khoa ung bướu lựa chọn phương án điều trị phù hợp tiếp theo.
Xác định giai đoạn bệnh, định hướng điều trị
Ung thư đại trực tràng là một trong những bệnh lý ác tính phổ biến hàng đầu, đứng thứ tư về số ca mắc mới và đứng thứ hai về tỷ lệ tử vong do ung thư tại Việt Nam. Trong điều trị bệnh lý này, phẫu thuật giúp loại bỏ khối u, nhưng kết quả điều trị và tiên lượng chính xác thời gian sống còn của người bệnh còn phụ thuộc vào kết quả chấn đoán giải phẫu bệnh phẩm sau mổ.

Các bác sĩ tiến hành phẫu thuật nội soi ung thư đại tràng cho bệnh nhân.
Tại Bệnh viện Đại học Y Dược Shing Mark, các y, bác sĩ đã thực hiện nghiên cứu mô tả trên 69 bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng được phẫu thuật nội soi trong giai đoạn 2018-2025. Nghiên cứu tập trung phân tích kết quả giải phẫu bệnh nhằm làm rõ đặc điểm khối u, mức độ xâm lấn thành ruột, tình trạng di căn hạch và giai đoạn bệnh.
Theo kết quả nghiên cứu, 75,36% trường hợp có khối u biệt hóa trung bình, 15,94% biệt hóa kém và 8,70% biệt hóa cao. Về mức độ xâm lấn, có 65,22% trường hợp ở giai đoạn xâm lấn dưới thanh mạc và 17,39% ở giai đoạn xuyên phúc mạc/cơ quan cận. Như vậy, 82,61% khối u đã xâm lấn sâu qua thành ruột, cho thấy bệnh đã tiến triển tại chỗ của khối u khi phát hiện.
Đáng chú ý, kết quả phân tích hạch vùng ghi nhận 43,48% bệnh nhân có di căn hạch, trong đó 27,54% di căn từ 1 - 3 hạch và 15,94% di căn từ 4 hạch trở lên. Số hạch được khảo sát trung bình đạt 12,9 hạch mỗi bệnh nhân.
Đây là thông tin quan trọng trong xác định giai đoạn bệnh. Việc khảo sát đầy đủ hạch vùng giúp tăng độ tin cậy của kết quả phân giai đoạn, hạn chế nguy cơ đánh giá thấp mức độ lan rộng của ung thư và hỗ trợ bác sĩ cân nhắc chỉ định điều trị bổ trợ sau phẫu thuật.
Phân tích tổng hợp cho thấy 5 bệnh nhân ở giai đoạn I, chiếm 7,25%; 22 bệnh nhân ở giai đoạn II, chiếm 31,88%; 37 bệnh nhân ở giai đoạn III, chiếm 53,62%; và 5 bệnh nhân ở giai đoạn IV, chiếm 7,25%. Như vậy, giai đoạn III chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm nghiên cứu.
Theo ThS.BS. Nguyễn Văn Mạnh, Phó khoa ngoại Tổng hợp, Bệnh viện Đại học Y Dược Shing Mark, phân tích giải phẫu bệnh có vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ xâm lấn của khối u, tình trạng hạch và những đặc điểm mô học cần thiết để đánh giá nguy cơ tái phát. Khi kết hợp với kết quả chẩn đoán hình ảnh, đánh giá lâm sàng và các xét nghiệm cần thiết, những thông tin này giúp bác sĩ xây dựng kế hoạch điều trị phù hợp cho từng cá thể người bệnh, bao gồm theo dõi sau mổ hoặc phối hợp hóa trị, xạ trị trong những trường hợp có chỉ định.
Phát hiện sớm để tăng cơ hội điều trị hiệu quả
Kết quả nghiên cứu cũng đặt ra vấn đề về thời điểm phát hiện bệnh. Trong 69 trường hợp được khảo sát, nhóm bệnh nhân ở giai đoạn II và III chiếm 85,50%, trong khi giai đoạn I chỉ chiếm 7,25%.
Thực tế này cho thấy việc nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích sàng lọc ở nhóm có nguy cơ là cần thiết. Một số dấu hiệu cần lưu ý gồm thay đổi thói quen đại tiện kéo dài, đi ngoài ra máu, đau bụng dai dẳng, thiếu máu hoặc sụt cân không rõ nguyên nhân. Khi xuất hiện những biểu hiện này, người dân cần đến cơ sở y tế để được thăm khám, không nên tự điều trị hoặc trì hoãn việc kiểm tra.
Bên cạnh đó, người từ 45 tuổi trở lên, những người có tiền sử gia đình mắc bệnh, từng phát hiện polyp đại trực tràng hoặc thuộc nhóm nguy cơ cao cần thực hiện nội soi đại trực tràng toàn bộ định kỳ. Đây được coi là “tiêu chuẩn vàng” giúp phát hiện sớm, cắt bỏ các tổn thương tiền ung thư (polyp) và nâng cao hiệu quả điều trị triệt căn.
Từ kết quả nghiên cứu, các bác sĩ nhấn mạnh vai trò phối hợp giữa phẫu thuật, giải phẫu bệnh và điều trị ung bướu trong quản lý bệnh nhân ung thư đại trực tràng. Nếu phẫu thuật nội soi góp phần loại bỏ khối u với ưu thế ít xâm lấn, thì kết quả giải phẫu bệnh cung cấp căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả phẫu thuật và định hướng các bước điều trị tiếp theo.
Cùng với việc nâng cao năng lực chuyên môn tại các cơ sở điều trị, đẩy mạnh truyền thông và chủ động sàng lọc trong cộng đồng là những giải pháp cần thiết nhằm phát hiện bệnh sớm, tăng cơ hội điều trị hiệu quả và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh.
ThS.BS Nguyễn Văn Mạnh - TS.BS Đoàn Ngọc Giao - CNĐD Nguyễn Văn Chung