Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Hà Huy Tập (24/4/1906 – 24/4/2026), người con ưu tú của quê hương Hà Tĩnh giàu truyền thống cách mạng, chúng ta tưởng nhớ và tri ân một chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng. Dù chỉ 35 năm tuổi đời và 16 năm hoạt động cách mạng, trong đó gần 2 năm giữ cương vị Tổng Bí thư, đồng chí đã để lại dấu ấn sâu sắc với những đóng góp to lớn cho công tác xây dựng Đảng và sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.
Nhà lãnh đạo kiên trung, góp phần khôi phục và phát triển tổ chức Đảng
Trong thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) giai đoạn 1929 -1932, đồng chí Hà Huy Tập đã sớm hình thành tư duy lý luận gắn liền với thực tiễn cách mạng. Không chỉ tiếp thu một cách hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng chí còn trực tiếp tham gia lao động tại các nhà máy, nông trường, sinh hoạt trong các tổ chức đảng và công đoàn, qua đó tích lũy nhiều kinh nghiệm thực tiễn quý báu.

Chân dung đồng chí Hà Huy Tập
Trong bối cảnh phong trào cách mạng trong nước bị thực dân Pháp khủng bố khốc liệt sau cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh (1930-1931), tháng 4/1933, đồng chí được Quốc tế Cộng sản cử về nước hoạt động cách mạng qua đường Trung Quốc. Khoảng tháng 6/1933, đồng chí cùng các đồng chí Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Dựt bàn việc thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Đến tháng 3/1934, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng chính thức được thành lập, đồng chí Hà Huy Tập là Ủy viên, phụ trách tuyên truyền, cổ động kiêm Tổng Biên tập Tạp chí Bônsơvích.
Tháng 6/1934, Hội nghị Ban Chỉ huy ở ngoài với đại biểu đại diện các đảng bộ trong nước đã thông qua nghị quyết khẳng định cơ quan lãnh đạo của Đảng đã chính thức được lập lại và chỉ đạo phong trào cách mạng; quyết định tổ chức Đại hội lần thứ I của Đảng vào mùa xuân năm 1935. Đồng chí Hà Huy Tập giữ vai trò nòng cốt trong việc chuẩn bị nội dung và tổ chức Đại hội. Từ ngày 27 đến ngày 31/3/1935, Đại hội lần thứ I của Đảng được tổ chức tại Ma Cao, Trung Quốc. Sự kiện này đánh dấu sự phục hồi về tổ chức của Đảng, các cơ quan lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở được lập lại, tạo tiền đề để Đảng tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng.
Ngày 26/7/1936, tại Hội nghị Trung ương Đảng ở Thượng Hải (Trung Quốc), đồng chí Hà Huy Tập được phân công về nước để tổ chức lại Ban Trung ương, đồng thời khôi phục liên lạc với các tổ chức của Đảng và đảm nhiệm cương vị Tổng Bí thư - Tổng Bí thư thứ ba của Đảng ta sau các đồng chí Trần Phú và Lê Hồng Phong. Ngay sau khi về nước vào đầu tháng 8/1936, đồng chí đã quyết định chuyển trụ sở của Đảng từ nước ngoài về xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, thống nhất của Trung ương đối với phong trào cách mạng trong nước.
Tại xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định, đồng chí chủ trì ba Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương vào tháng 3/1937, tháng 9/1937 và tháng 3/1938, đề ra nhiều chủ trương quan trọng như thống nhất các tổ chức Đảng, xây dựng Mặt trận dân chủ thống nhất Đông Dương, phát triển cơ sở Đảng và thúc đẩy phong trào đấu tranh dân chủ. Những quyết sách đó đã góp phần đưa phong trào cách mạng từng bước phục hồi và phát triển mạnh mẽ.
Nhà lý luận sắc sảo, chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng
Không chỉ là nhà lãnh đạo thực tiễn, đồng chí Hà Huy Tập còn là một nhà lý luận có tư duy sắc bén, có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng nền tảng tư tưởng của Đảng.
Trong thời gian học tập tại Mátxcơva, đồng chí đã viết nhiều công trình có giá trị như Lịch sử của Tân Việt Cách mệnh Đảng (1929), Hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương (1931), Thư gửi Ban Biên tập Tạp chí Bônsơvích (1932), Kỷ niệm ba năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương thống nhất (1933). Đặc biệt, tác phẩm Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương đã tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam trong những năm đầu do Đảng lãnh đạo.
Trong giai đoạn 1931-1936, nhiều văn kiện của Đảng do đồng chí khởi thảo không chỉ góp phần tổ chức lại Đảng, củng cố phong trào công nhân và phong trào yêu nước, mà còn thể hiện những quan điểm lý luận quan trọng về cách mạng Việt Nam và xây dựng chính đảng mácxít - lêninnít. Đồng thời, các văn kiện này góp phần đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù, củng cố niềm tin của quần chúng và là những tư liệu có giá trị đối với công tác nghiên cứu lịch sử Đảng.
Trên mặt trận báo chí, với các bút danh như Thanh Hương, Hong Qui Vit…, đồng chí đã viết nhiều bài đăng trên các báo Tranh đấu (La Lutte), Tiền phong (L’ Avant - Garde),… kiên quyết vạch trần bản chất phản động của các phần tử tờrốtkít, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin. Sau khi về nước, trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu tranh tư tưởng gắn với chỉ đạo đường lối cách mạng thông qua các tác phẩm như Vì một Mặt trận nhân dân Đông Dương, Vì sao cần ủng hộ Mặt trận bình dân bên Pháp… góp phần giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn, định hướng chiến lược và sách lược của Đảng trong thời kỳ vận động dân chủ.
Người cộng sản kiên trung, hy sinh trọn đời vì nước, vì dân
Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Hà Huy Tập là biểu tượng sáng ngời của khí tiết người cộng sản. Ngay từ khi còn là giáo viên tại Nha Trang, đồng chí đã bị thực dân Pháp trục xuất vì tư tưởng chống Pháp. Trở về Nghệ An, rồi vào Gia Định, Bà Rịa, đồng chí tiếp tục hoạt động, tổ chức chi bộ, lập hội đọc sách báo, mở lớp xóa mù chữ cho công nhân, góp phần nâng cao dân trí và giác ngộ cách mạng.

Khám Lớn Sài Gòn - nơi thực dân Pháp giam giữ đồng chí Hà Huy Tập trước khi bị kết án tử hình (Ảnh tư liệu, nguồn: qdnd.vn).
Ngày 01/5/1938, trên đường đi công tác, đồng chí bị thực dân Pháp bắt. Sau 10 tháng giam cầm không có chứng cớ về tội lật đổ, địch đã kết án 8 tháng tù và 5 năm biệt xứ, trục xuất về nguyên quán. Tháng 3/1940, đồng chí bị địch bắt lại và giam ở Khám Lớn, Sài Gòn. Trước mọi tra tấn, đàn áp, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết, không khuất phục, một lòng trung thành với Đảng và lý tưởng cách mạng. Ngày 25/3/1941, Tòa án quân sự Sài Gòn kết án tử hình đối với đồng chí Hà Huy Tập.
Với lời nhắn gửi về gia đình: “Nếu tôi phải bị chết thì ở nhà không nên thờ cúng, điếu phúng, không cần tìm người lập tự. Gia đình và bạn hữu chớ xem tôi như là người đã chết mà buồn, trái lại nên xem tôi như người còn sống, nhưng đi vắng vô hạn… mà thôi”, đồng chí đã thể hiện bản lĩnh kiên cường, niềm tin mãnh liệt và khát vọng cống hiến trọn đời cho lý tưởng cao cả của Đảng và dân tộc.
Ngày 28/8/1941, tại Hóc Môn, Gia Định, thực dân Pháp đã xử bắn đồng chí Hà Huy Tập cùng một số đồng chí lãnh đạo khác của Đảng. Dù anh dũng hy sinh ở tuổi 35, nhưng tinh thần kiên trung, khí tiết cách mạng và những cống hiến của đồng chí vẫn sống mãi trong lòng Đảng, Tổ quốc và Nhân dân ta, trở thành tấm gương sáng cho các thế hệ hôm nay và mai sau noi theo.
Thu Hảo