Bệnh sốt xuất huyết do vi rút Ê-bô-la (gọi tắt là bệnh Ebola) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, dễ lây lan và bùng phát thành dịch, có thể gây bệnh nặng và tỷ lệ tử vong cao lên đến 90%.
Bệnh Ebola được phát hiện đầu tiên năm 1976 tại Sudan trong một ổ dịch có hơn 600 người dân địa phương mắc, tỷ lệ chết/mắc lên tới 90%. Tiếp theo là các vụ dịch xảy ra ở Sudan (1979), Bờ biển ngà (1994), Kitwit, Công gô (1995), Uganda (2001), Gabon và Công gô (2003) với hàng trăm ca mắc, tỷ lệ tử vong rất cao (50 tới 75%). Dịch bệnh Ebola năm 2014 - 2016 ở Tây Phi là đợt bùng phát lớn nhất và phức tạp nhất kể từ khi vi rút này được phát hiện lần đầu tiên năm 1976 với hơn 28.600 người đã bị nhiễm bệnh và 11.325 người đã tử vong.

Vi rút Ebola (Nguồn: internet)
Gần đây, hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm đã ghi nhận thông tin từ Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về dịch bệnh Ebola do chủng Bundibugyo của vi rút Ebola tại Cộng hòa Dân chủ Công gô và Uganda đã được xác định là sự kiện y tế công cộng khẩn cấp gây quan ngại quốc tế. Theo thông tin từ WHO, tính đến ngày 16/5/2026, tại Cộng hòa Dân chủ Công gô đã ghi nhận 8 trường hợp mắc bệnh được khẳng định bằng xét nghiệm, 46 trường hợp nghi ngờ và 80 trường hợp tử vong nghi ngờ có liên quan tại tỉnh Ituri. Tại Uganda, ghi nhận 2 trường hợp mắc bệnh được khẳng định bằng xét nghiệm, trong đó có 1 trường hợp tử vong tại Kampala; cả hai trường hợp đều là người đi từ Cộng hòa Dân chủ Công gô. Đây là cảnh báo y tế quan trọng để các quốc gia tăng cường giám sát, phát hiện sớm và chuẩn bị ứng phó, tuy nhiên không có nghĩa là dịch đã lan rộng toàn cầu.
Đường lây và triệu chứng điển hình của bệnh Ebola
Bệnh lây từ người sang người qua tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch cơ thể của người mắc bệnh hoặc người tử vong do Ebola. Bệnh cũng có thể lây qua tiếp xúc với đồ vật, bề mặt bị nhiễm dịch cơ thể của người bệnh. Mọi người, ở mọi lứa tuổi nếu chưa có miễn dịch đều có thể nhiễm vi rút và mắc bệnh Ebola.
Các triệu chứng thường gặp khi nhiễm vi rút gồm: sốt, mệt mỏi, đau đầu, đau cơ, đau họng, nôn, tiêu chảy, đau bụng, phát ban; một số trường hợp có thể có biểu hiện xuất huyết. Thời gian ủ bệnh thường từ 2 đến 21 ngày.
Trong thời gian bùng phát dịch bệnh, những người có nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn bao gồm: nhân viên y tế và chăm sóc sức khỏe tiếp xúc gần với bệnh nhân; người chăm sóc, thành viên gia đình hoặc những người khác tiếp xúc trực tiếp với người nhiễm bệnh; những người tham dự tang lễ hoặc lễ an táng có tiếp xúc trực tiếp với thi thể bởi vì họ có thể tiếp xúc với máu hoặc chất dịch cơ thể của người bị nhiễm vi rút.
Biện pháp phòng bệnh Ebola
Cho đến nay, Việt Nam chưa phát hiện trường hợp nào mắc bệnh Ebola, tuy nhiên nguy cơ dịch bệnh Ebola xâm nhập vào nước ta là hoàn toàn có thể.
Để chủ động phòng bệnh, người dân không nên đến các quốc gia đang có dịch khi không cần thiết. Nếu đang sống ở trong khu vực có dịch, người dân nên tránh tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết, các vật dụng của người bị nhiễm bệnh; không cầm/nắm các vật có thể đã tiếp xúc với máu, dịch tiết của người, động vật nhiễm bệnh trước đó; thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, chất sát khuẩn.
Đồng thời, người dân cần tuân thủ các khuyến cáo của Bộ Y tế, bao gồm: Người đi về từ khu vực đang có dịch cần tự theo dõi sức khỏe trong 21 ngày. Không tiếp xúc trực tiếp với người có triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh Ebola, máu, dịch cơ thể hoặc đồ dùng của người bệnh. Khi có biểu hiện sốt, mệt mỏi, đau đầu, đau cơ, nôn, tiêu chảy hoặc xuất huyết sau khi đi về từ vùng có dịch, cần đến ngay cơ sở y tế và thông báo lịch sử đi lại, tiếp xúc để được hướng dẫn kịp thời.
Người dân không nên hoang mang, nhưng cũng không chủ quan; cần chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh và tiếp tục theo dõi thông tin chính thức từ Bộ Y tế và Tổ chức Y tế thế giới.
ThS.BS Hồ Thị Hồng